
Trong khi hoạt động doanh nghiệp không thể tránh khỏi số giờ làm thêm của người lao động vượt mức cho phép, Vậy đối với trường hợp này thì kế toán phải xử lý thế nào?
Đối với thuế TNCN
Phần tiền lương làm thêm giờ trong mức quy định sẽ được miễn thuế TNCN, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền xông thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức tiền lương tiền công tính theo ngày làm việc bình thường
Phần tiền lương làm thêm giờ vượt quá quy định sẽ không được miễn thuế TNCN
Đối với thuế TNDN
Phần tiền lương làm thêm giờ trong mức quy định sẽ được đưa vào chi phí hợp lý nếu có các hồ sơ liên quan chứng minh
Phần tiền lương làm thêm giờ vượt quá quy định sẽ không được tính cho phí được trừ cho mục đích thuế

1, Căn cứ pháp lý và hướng dẫn tại Điều 106, Bộ luật lao động 2012
Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.
Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Được sự đồng ý của người lao động;
b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;
Quan điểm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về làm thêm giờ vượt mức quy định tại công văn số 5014/ LĐTBXH-LĐTL trả lời Tổng Cục thuế
- Người sử dụng lao động thỏa thuận với người lao động làm thêm giờ từ 200 giờ đến 300 giờ trong một năm nhưng không thực hiện các thủ tục quy định tại Nghị định số 109/2002/NĐ-CP của Chính phủ là không theo đúng quy định của Nhà nước.
- Người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động làm thêm giờ vượt quá 300 giờ trong một năm là trái với quy định của Nhà nước.
Căn cứ Điểm 1 của công văn này và giải trình của các doanh nghiệp trong trường hợp cụ thể về việc thực hiện chế độ làm thêm giờ đối với người lao động theo quy định của Nhà nước, đề nghị Tổng cục Thuế xem xét, quyết định Khoản chi trả tiền lương làm thêm giờ đối với người lao động của doanh nghiệp có thuộc các Khoản chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp theo quy định của Nhà nước.
2, Thuế TNCN Khoản I, Điều 3, thông tư 111/2013/TT-BTC về thu nhập miễn thuế
Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:
Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.
(Trích Công văn 3310/TCT-CS)
Căn cứ quy định trên thì thu nhập từ tiền lương, tiền công làm đêm, làm thêm giờ chi được miễn thuế TNCN đối với phần tiền lương, tiền công làm đêm, làm ngoài giờ được trả cao hơn so với tiền lương tiền công tính theo ngày làm việc bình thường không được miễn toàn bộ. do đó, công ty phải thực hiện lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương đã trả cho người lao động do làm đêm, làm thêm giờ theo quy định
(Công văn 66647/CT-TTHT)
Căn cứ quy định trên, trường hợp trong năm người lao động của đơn vị có thời gian làm thêm trên 200h thì phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ đối với số giờ trên 200 h trong năm nếu đáp ứng quy địng tại khoản , khoản 2 điều 4 mục 1 chương II NĐ 45/2013/NĐ-CP ngày 10/ 05/ 2013 của chính phủ thì được miễn thuế TNCN theo điểm i khỏan 1 điều 3 TT 111/201/TT-BTC ngày 15/8/2013 của BTC
(Công văn 2546/CT-TTHT)
Căn cứ hướng dẫn nêu trên và nội dung trình bày của công ty tại văn bản số 0119/WC ngày 12/02/ 2019, trường hợp công ty có các khoản chi tiền lương, tiền công cho người lao động làm thêm giờ ngoài thời giờ làm việc bình thường vượt mức quy định 200 giờ trong 1 năm theo quy định tại điều 106 bộ luật lao độg số 10/2012/ QH13 ngày 18/ 06/2012 thì phần thu nhập vượt mức quy định nêu trên không thuộc thu nhập đươc miễn thuế TNCN của NLĐ. Công ty có trách nhiệm kê khai khấu trừ nộp thay thuế TNCN cho NLĐ theo đúng quy định của luật thuế TNCN hiện hành
3, Thuế TNDN theo điều 4, TT 96/2015/TT-BTC
“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo quan điểm của các cơ quan thuế địa phương, hầu như các địa phương không cho phép tính trừ chi phí làm thêm giờ vươt mức quy định vào chi phí được trừ.
Đây cũng là quan điểm của Tổng Cục thuế trước Luật thuế TNDN số 14/2008/QH11
Tuy nhiên, hiện nay, quan điểm của Tổng Cục thuế có sự thay đổi, cho phép căn cứ theo tình hình thực tế để cơ quan thuế địa phương xác định cho phép chi phí tiền lương làm thêm giờ vượt mức quy định được trừ nếu có văn bản thông báo với Sở Lao động thương binh xã hội tại địa phương đó.
Trích Công văn số 2323/TCT-CS
Căn cứ quy định nêu trên nếu doanh nghiệp do nguyên nhân khách quan phải làm thêm giờ thì cục thế phối hợp với sở lao động thương binh và xã hội để xem xét tình hình thực tại của doanh nghiệp. Trường hợp vì các lý do chính đáng doanh nghiệp phải tăng thời gian làm thêm giờ thì khoản chi phí làm thêm giờ doanh nghiệp thực chi trả cho người lao động và có đủ chứng từ theo quy định tại văn bản về thuế TNDN được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN