
Thông thường thu nhập từ tiền công, tiền lương của người lao động sẽ bị tính thuế TNCN (tính theo biểu lũy tiến toàn phần đối với cá nhân cư trú và toàn phần đối với cá nhân không cư trú). Khoản thuế TNCN sẽ được khấu trừ vào lương trước khi chủ doanh nghiệp trả lương cho người lao động. Tuy nhiên, trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu những khoản thu nhập không chịu thuế TNCN từ tiền công, tiền lương
Theo quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 3 Thông tư 219/2013/TT-BTC. Khoản thu nhập từ tiền công, tiền lương không chịu thuế TNCN bao gồm các trường hợp như sau:
Ví dụ:
Giả sử tiền lương Anh B vào trong giờ làm việc bình thường là 60.000 (đồng/giờ).
Tuy nhiên trong tháng do yêu cầu phải thực hiện gấp để kịp tiến độ giao cho khách hàng. Do đó Anh B phải làm thêm ngoài giờ. Số giờ làm thêm là 20 (giờ). Tiền công cho 1 giờ làm thêm là 80.000 (đồng/giờ).
Như vậy phần tiền lương Anh B thuộc thu nhập không chịu thuế TNCN là:
20 giờ * (80.000 – 60.000) đồng/giờ = 400.000 (đồng).

– Người sử dụng lao động cần phải lập bảng kê theo dõi và phản ánh chi tiết thời gian mà người lao động làm thêm giờ, thời gian làm việc vào ban đêm, khoản tiền công, tiền lương trả thêm cho người lao động.
– Bảng kê phải được lưu giữ tại đơn vị. Đồng thời phải xuất trình nếu có yêu cầu kiểm tra của cơ quan thuế.
Thu nhập không chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công của các khoản phụ cấp, trợ cấp.
Theo điểm b, khoản 2, Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (và được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 92/2015/TT-BTC). Các khoản phụ cấp, trợ cấp không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN.
Trên đây là các khoản Thu nhập không chịu thuế TNCN từ tiền công, tiền lương theo quy định mới nhất của Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 92/215/TT-BTC.